22 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phường Hạnh Thông, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Giỏ hàng
0969 349 499
Cây nêu là gì? Sự tích cây nêu ngày Tết

Cây nêu là gì? Sự tích cây nêu ngày Tết

Cây nêu là một thân cây được người dân Việt Nam đem trồng trước sân nhà mỗi dịp Tết Nguyên đán. Cây nêu còn gắn liền với các lễ hội khác như hội làng, lễ hội đâm trâu,…

Cây nêu ngày Tết có ý nghĩa gì?

 

Cây nêu ngày Tết gắn liền với các lễ hội lớn của dân tộc Việt Nam

Cây nêu của người Kinh thường sử dụng một số loại cây họ tre như tre, bương, lồ ô, có độ cao khoảng 5-6 mét, đã được tỉa sạch các nhánh và lá tre; các dân tộc thiểu số thường sử dụng loại cây gỗ chắc chắn được vẽ quanh thân, có tua đại.

Trên ngọn cây nêu treo một vòng tròn nhỏ và tùy theo địa phường mà vòng tròn này treo nhiều vật dụng khác nhau tùy theo từng địa phương, vùng miền.

Ý nghĩa của cây nêu ngày Tết

Việc trồng cây nêu ngày Tết được bắt nguồn từ Sự tích cây nêu ngày Tết trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Theo sự tích, cây nêu là biểu tượng của sự đấu tranh giữa thiện và ác nhằm bảo vệ cuộc sống bình yên cho mọi người.

Cây nêu ngày Tết có ý nghĩa gì?

Theo Sự tích cây nêu ngày Tết, cây nêu là biểu tượng của sự đấu tranh giữa thiện và ác

Những dịp Tết đến, xuân về là lúc thần linh về trời, do đó con người cần những “bảo bối” như cây nêu nhằm đề phòng cảnh giác, chống lại sự xâm nhập của ác quỷ lúc con người vui chơi.

Theo thời gian, cùng với sự phong phú của các đồ lễ treo trên ngọn cây, cây nêu được coi là cây vũ trụ nối liền đất với trời, hàm chứa ý thức về lãnh thổ của người Việt.

Ngày xưa, cây nêu là biểu tượng cho sự uy quyền, nhà nào có quyền thế nhất là nhà đó có cây nêu cao nhất. Hiện nay, phong tục trồng cây nêu ngày tết đã dần mất đi trong cộng đồng người Việt thời hiện đại, và được thay thế với tục chơi cành hoa đào, hoa mai ngày tết, bày trong nhà. Cây nêu chỉ còn bắt gặp lác đác tại một số vùng quê, trong cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng thượng du Bắc Bộ hay Tây Nguyên.

Cây nêu ngày Tết có ý nghĩa gì?

Cây nêu được dựng vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch và hạ vào ngày 7 tháng Giêng âm lịch

Theo quan niệm truyền thống, cây nêu của người miền bắc thường được dựng vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, vì từ ngày này cho đến đêm giao thừa là ngày Táo quân về chầu trời. Người dân quan niệm rằng, đây là thời điểm vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội lẻn về quấy nhiễu.

Người Mường trồng cây nêu vào ngày 28 tháng Chạp âm lịch, trong khi đó người H-mông dựng cây nêu trong lễ hội Gầu tào (cầu phúc hoặc cầu mệnh) được diễn ra từ ngày 3 đến 5 tháng giêng âm lịch.

Đối với cộng đồng người dân tộc Sán Dìu dựng trong lễ cầu mùa để tạ ơn trời đất và cầu mong sự bình yên cho người, gia súc và mùa màng bội thu.

Cách dựng và hạ cây nêu ngày Tết

– Cây nêu sẽ được dựng trước sân nhà vào ngày 23 tháng Chạp

Cây nêu phải làm bằng cây tre dài khoảng 5 – 6 mét vì tre có đốt, là bậc thang đi về của thần linh, mang sinh khí của trời chuyển xuống mặt đất giúp mặt đất phì nhiêu, hội tụ sinh khí giúp mùa màng tốt tươi.

Tre phải là loại tre già, to, thẳng, không được cụt ngọn. Thân cây có thể được trang trí bằng các loại cờ, phướn, đèn lồng, câu đối, niêu đất chứa vôi, chuông gió,…

Cây nêu ngày Tết có ý nghĩa gì?

Trên ngọn cây nêu treo một vòng tròn nhỏ và trên vòng tròn này treo một số đồ vật khác nhau theo từng vùng miền.

– Bên dưới gốc rắc bột vôi trắng tạo thành vòng tròn hoặc rắc hình cánh cung, mũi tên hướng ra phía cổng để xua đuổi tà ma.

– Trên ngọn cây nêu treo vòng tròn nhỏ và trên vòng tròn này treo một số đồ vật như vàng mã, các lá bùa hình bát quái, nhánh xương rồng, cành lá dứa, bầu rượu bệu bằng rơm, giỏ tre đựng vôi và trầu cau, cá chép bằng giấy, giải cờ vải hay những chiếc khánh đất nung va đập vào nhau kêu leng keng giống chuông gió.

– Cây nêu sẽ được hạ vào ngày mùng 7 tháng Giêng. Trước khi hạ nêu, cần tránh động thổ để cho đất được hội tụ sinh khí, phì nhiêu và sau khi hạ nêu, người dân có thể bước vào lễ hội mới với những hoạt động liên quan đến sản xuất nông nghiệp.

Sự tích cây nêu ngày Tết

Ngày ấy, không biết từ bao giờ và cũng không biết bằng cách gì, Quỷ chiếm đoạt tất cả đất nước. Người chỉ ăn nhờ ở đậu và làm rẽ ruộng đất của Quỷ. Quỷ đối với người ngày càng quá tay. Chúng dần tăng số phải nộp lên gấp đôi và mỗi năm mỗi nhích lên một ít. Cuối cùng chúng bắt Người phải nộp theo một thể lệ đặc biệt do chúng nghĩ ra là “ăn ngọn cho gốc”. Người không chịu. Chúng dùng áp lực bắt phải theo. Vì thế, năm ấy sau vụ gặt, Người chỉ còn trơ những rạ là rạ. Cảnh tượng xương bọc da thê thảm diễn ra khắp mọi nơi bên cạnh bọn Quỷ reo cười đắc ý.

Phật từ phương Tây lại, có ý định giúp người chống lại sự bóc lột tàn nhẫn của Quỷ. Sau mùa đó, Phật bảo Người đừng trồng lúa mà cào đất thành luống trồng khoai lang. Người cứ y lời làm đúng như lời Phật dặn. Quỷ không ngờ Người đã bắt đầu có mưu kế chống lại mình nên cứ nêu đúng thể lệ như mùa trước: “Ăn ngọn cho gốc”.

Mùa thu hoạch ấy, Quỷ rất hậm hực nhìn thấy những gánh khoai lang chạy về nhà Người đổ thành từng đống lù lù, còn nhà mình chỉ toàn những dây và lá khoai là những thứ không nhai nổi. Nhưng ác nỗi, thể lệ đã quy định, chúng đành cứng họng không chối cãi vào đâu được.

Sang mùa khác, Quỷ thay thể lệ mới là “Ăn gốc cho ngọn”. Phật bảo người lại chuyển sang trồng lúa. Kết quả Quỷ lại hỏng ăn. Những hạt lúa vàng theo người về nhà, còn rạ phó mặc cho Quỷ. Quỷ tức lộn ruột nên mùa sau chúng tuyên bố “Ăn cả gốc lẫn ngọn”. Lần này Quỷ nghĩ:

– Cho chúng nó muốn trồng gì thì trồng, đằng nào cũng không lọt khỏi tay chúng tao.

Nhưng Phật đã bàn với Người thay đổi giống mới. Phật trao cho Người hạt giống cây ngô để gieo khắp mọi nơi mọi chỗ.

Năm ấy có một lần nữa, Người sung sướng trông thấy công lao của mình không uổng. Trong nhà Người thóc ăn chưa hết thì từng gánh ngô đã tiến về chứa từng cót đầy ăm ắp. Về phần quỷ lại bị một vố cay chua, uất ức hàng mấy ngày liền. Cuối cùng Quỷ nhất định bắt Người phải trả tất cả ruộng đất không cho làm rẽ nữa. Trong bụng chúng nghĩ:

– Thà không được cái gì cả, còn hơn là để cho chúng nó ăn một mình.

Phật bảo Người điều đình với Quỷ cho tậu một miếng đất vừa bằng bóng một chiếc áo cà sa. Nghĩa là Người sẽ trồng một cây tre có mắc một chiếc áo cà sa trên ngọn, bóng cà sa che bao nhiêu diện tích ở mặt đất thì là đất của Người sở hữu ở đó. Ban đầu Quỷ không thuận nhưng sau chúng nó suy tính thấy đất tậu ít mà giá rất hời bèn nhận lời:

– Ồ! Bằng chiếc áo cà sa có là bao nhiêu.

Chúng nó nghĩ thế. Hai bên làm tờ giao ước: Ngoài bóng tre là đất của Quỷ, trong bóng tre là đất của Người.

Khi Người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn, tung áo cà sa bay toả ra thành một miếng vải tròn. Rồi Phật hoá phép làm cho cây tre cao vút mãi lên, đến tận trời. Tự nhiên đất trời trở nên âm u: bóng của áo cà sa dần dần che kín khắp cả mặt đất. Bọn Quỷ không ngờ có sự phi thường như thế; mỗi lần bóng áo lấn dần vào đất của chúng, chúng phải dắt nhau lùi mãi lùi mãi. Cuối cùng Quỷ không có đất ở nữa, phải chạy ra biển đông. Vì thế người ta mới gọi là Quỷ Ðông.

Tiếc vì đất đai hoa màu đều thuộc về tay Người, Quỷ rất hậm hực, cố chiêu tập binh mã vào cướp lại. Lần này Người phải chiến đấu với Quỷ rất gay go vì quân đội của Quỷ có đủ một bầy ác thú như voi, ngựa, chó, ngao, bạch xà, hắc hổ, v.v… rất hung dữ. Phật cầm gậy tầm xích đánh giúp Người làm quân của Quỷ không tiến lên được.

Sau mấy trận bất lợi, Quỷ bèn cho quân đi dò xem Phật sợ gì. Phật cho chúng biết là sợ hoa quả, oản chuối và cơm nắm, trứng luộc. Ðối lại Phật cũng dò hỏi và biết quân của Quỷ chỉ sợ độc có mấy thứ : máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột.

Lần giáp chiến sau đó, quân của Quỷ đem không biết cơ man nào là hoa quả đến ném Phật, Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi đem máu chó vẩy khắp nơi. Quân của Quỷ thấy máu chó, sợ hoảng hồn bỏ chạy.

Lần thứ hai, quân của Quỷ lại đem oản chuối vào ném quân Phật. Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi giã tỏi phun vào quân địch. Quân của Quỷ không chịu được mùi tỏi, nên cũng cắm đầu chạy biệt tích.

Lần thứ ba, quân của Quỷ lại đem cơm nắm, trứng luộc vào ném quân Phật. Người tha hồ ăn và theo lời Phật dùng vôi bột vung vào Quỷ. Người lại lấy lá dứa quất vào chúng. Quỷ chạy không kịp, lại bị Phật bắt đày ra biển đông. Ngày Quỷ già, Quỷ trẻ, Quỷ đực, Quỷ cái cuốn gói ra đi, bộ dạng của chúng vô cùng thiểu não. Chúng rập đầu sát đất cố xin Phật thương tình cho phép một năm được hai ba ngày vào đất liền thăm phần mộ của tổ tiên cha ông ngày trước. Phật thấy chúng khóc váng cả lên mới thương hại hứa cho.

Vì thế, hàng năm cứ đến ngày tết Nguyên Ðán là ngày Quỷ vào thăm đất liền, thì người ta theo tục trồng nêu để cho Quỷ không dám bén mảng vào chỗ người đang ở. Trên nêu có khánh đất, mỗi khi gió rung thì có tiếng động phát ra để luôn nhắc bọn Quỷ nghe mà tránh. Cũng trên đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hái để cho Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía đông và rắc vôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm cửa Quỷ.

Có câu ca dao:

Cành đa lá dứa treo kiêu (cao)
Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà.
Quỷ vào thì Quỷ lại ra.
Cành đa lá dứa thì ta cứa mồm

Ngày xưa người ta còn tin rằng những lúc cần đuổi quỷ như khi có dịch tễ chẳng hạn, thì treo một nắm lá dứa ở trước ngõ hay vẩy máu chó khắp nơi cho Quỷ khỏi quấy. Ðàn bà thường buộc tỏi vào giải yếm là cũng có một mục đích gần như vậy.

Nguôn sưu tầm

BTV Vinapool 

 

Tin liên quan
Bình luận
0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Subscribe
Thông báo cho
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
đối tác
  • VianPool VINAPOOL
  • VianPool Thiết bị hồ bơi
  • VianPool Cung cấp thiết bị hồ bơi
  • VianPool Thiết bị ngành gas
  • VianPool Thiết bị hồ bơi Pentair
  • VianPool Thiết bị hồ bơi Emaux
  • VianPool Thiết bị hồ bơi Waterco
© 2017 Vinapool. All rights reserved. Thiết kế web ITGreen
VianPool Thiết bị hồ bơi Waterco VianPool Thiết bị hồ bơi Waterco VianPool Thiết bị hồ bơi Waterco VianPool Thiết bị hồ bơi Waterco
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x